Hội nghị Trung ương 4: Đổi mới phương thức lãnh đạo và khơi dậy nguồn lực con người
Giáo sư, Tiến sĩ Võ Khánh Vinh cho rằng, thể chế dù tốt đến đâu cũng cần có con người tổ chức thực hiện, do đó công tác cán bộ phải gắn trực tiếp với yêu cầu nâng cao năng lực thực thi của hệ thống.

Phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ Tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: Những vấn đề về tổ chức, xây dựng Đảng, phương thức lãnh đạo, cầm quyền; cán bộ, nguồn lực và phát triển kinh tế-xã hội cần được xem xét trong mối liên hệ hữu cơ với nhau. Đảng định hướng đúng. Hệ thống chính trị, guồng máy hành chính vận hành hiệu quả. Tiềm năng, sức lực con người được phát huy. Nhân dân được thụ hưởng thành quả. Gắn nhiệm vụ trước mắt với mục tiêu năm 2030, năm 2045 và tầm nhìn lâu dài.
Rút ngắn khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn
Về những trọng tâm được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gợi mở tại khai mạc Hội nghị Trung ương 4, Giáo sư, Tiến sĩ Võ Khánh Vinh, nguyên Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng, các nội dung đó có mối quan hệ chặt chẽ trong quá trình nâng cao năng lực lãnh đạo, đổi mới phương thức lãnh đạo, xây dựng đội ngũ cán bộ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Trong đó, điều cần đặc biệt quan tâm là làm thế nào rút ngắn khoảng cách giữa chủ trương, chính sách với thực tiễn. Một quyết định đúng về định hướng nhưng chậm được thể chế hóa thì chưa thể tạo ra kết quả. Ngược lại, thể chế đã có nhưng tổ chức thực hiện không tốt, phối hợp không hiệu quả hoặc trách nhiệm không rõ thì kết quả cũng sẽ bị hạn chế.
Khi một vấn đề trong thực tiễn chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa đạt yêu cầu, trước hết cần xác định đúng nguyên nhân. Có vấn đề nằm ở chính sách, có vấn đề nằm ở thể chế, nhưng cũng có những vấn đề thuộc về tổ chức thực hiện, sự phối hợp giữa các cơ quan hoặc trách nhiệm của cá nhân, người đứng đầu. Việc xác định đúng điểm nghẽn sẽ giúp lựa chọn giải pháp phù hợp, tránh sử dụng việc sửa đổi thể chế để giải quyết những vấn đề thực chất thuộc về tổ chức thực hiện, đồng thời không đổ lỗi cho khâu thực thi khi bản thân chính sách còn bất cập, qua đó hạn chế việc xử lý một vấn đề nhưng lại tạo thêm những quy định không cần thiết.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Võ Khánh Vinh, đây cũng là một yêu cầu quan trọng đối với đổi mới phương thức lãnh đạo. Hiệu quả lãnh đạo không chỉ thể hiện ở việc ban hành chủ trương mà còn ở năng lực tổ chức để chủ trương đó được thực hiện thống nhất, đúng hướng và tạo ra kết quả trong thực tế. Trong quá trình đó, phân cấp, phân quyền là một vấn đề cần được quan tâm. Nếu quá nhiều việc đều tập trung ở cấp trên thì cấp dưới dễ rơi vào tình trạng chờ đợi, trong khi cấp gần với thực tiễn lại không có đủ thẩm quyền để quyết định. Nhưng nếu phân quyền mà không đi cùng trách nhiệm và kiểm soát quyền lực thì lại có thể phát sinh những vấn đề khác. Vì vậy, phân cấp, phân quyền phải gắn với trách nhiệm giải trình và cơ chế kiểm tra, giám sát phù hợp.
Cùng với đó, cần xác định rõ những việc thuộc thẩm quyền quyết định của Trung ương và những việc có thể giao cho địa phương, cơ quan, đơn vị chủ động thực hiện; quyền hạn được giao phải đi cùng trách nhiệm của chủ thể thực hiện, nhất là người đứng đầu. Phân cấp, phân quyền không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý mà phải bảo đảm giao đúng thẩm quyền, đúng trách nhiệm và có cơ chế kiểm soát phù hợp. Cách làm này cũng giúp hạn chế tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Khi thẩm quyền và trách nhiệm được quy định rõ, người thực hiện có cơ sở để quyết định, đồng thời xã hội cũng có cơ sở để đánh giá kết quả.
Đổi mới phương thức lãnh đạo, vì vậy, không phải là tạo thêm tầng nấc quản lý mà phải hướng tới giảm những khâu trung gian không cần thiết, làm rõ trách nhiệm và nâng cao khả năng phản ứng của bộ máy trước những vấn đề thực tế. Một quyết định chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành kết quả. Do đó, cùng với hoàn thiện thể chế, cần quan tâm đến năng lực thực thi và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan. Đây là khâu có ảnh hưởng trực tiếp đến việc rút ngắn khoảng cách giữa chủ trương và cuộc sống.
Liên quan đến đổi mới công tác cán bộ, Giáo sư, Tiến sĩ Võ Khánh Vinh cho rằng, thể chế dù tốt đến đâu cũng cần có con người tổ chức thực hiện, do đó công tác cán bộ phải gắn trực tiếp với yêu cầu nâng cao năng lực thực thi của hệ thống. Trước hết, cần lựa chọn những người có năng lực, trách nhiệm và phù hợp với yêu cầu của từng vị trí, đồng thời tạo môi trường để cán bộ phát huy năng lực và có cơ chế đánh giá dựa trên kết quả công việc. Theo đó, đánh giá cán bộ cần chú trọng kết quả thực tế, như khả năng giải quyết công việc, tháo gỡ những vấn đề khó và hoàn thành nhiệm vụ được giao, thay vì chỉ dựa vào hồ sơ, bằng cấp hay thời gian công tác.
Một hệ thống muốn vận hành hiệu quả phải tạo được sự kết nối giữa thể chế, tổ chức bộ máy, cán bộ và nguồn lực. Do đó, cần xác định đúng trọng tâm để tập trung nguồn lực vào những nhiệm vụ có tính nền tảng, có tác động lan tỏa. Thước đo cuối cùng vẫn là kết quả: quyết sách phải tạo ra chuyển biến trong thực tế, cơ chế phải giúp người thực hiện làm việc hiệu quả hơn và đội ngũ cán bộ phải giải quyết được công việc, tạo ra kết quả cụ thể.
Khơi dậy sức sáng tạo từ nguồn lực con người
Giáo sư Nguyễn Văn Phượng, nguyên Phó trưởng khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội cho rằng, yêu cầu phát huy trí tuệ, sức sáng tạo của người dân có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn phát triển mới. Chủ trương, chính sách dù đúng đến đâu cũng phải được con người tổ chức thực hiện và hướng tới phục vụ con người. Vì vậy, nếu muốn tạo ra những bước phát triển mới thì trước hết phải phát huy được năng lực của con người. Nguồn lực con người, không nên chỉ được nhìn ở số lượng lao động hoặc trình độ bằng cấp. Quan trọng hơn là khả năng tư duy, sáng tạo, thích ứng và giải quyết những vấn đề mới. Đây cũng là vấn đề giáo dục phải đặc biệt quan tâm.
Từ thực tế giáo dục hiện nay cho thấy, năng lực của một người không phải lúc nào cũng thể hiện đầy đủ ngay từ đầu. Có những học sinh, sinh viên ban đầu chưa thật sự nổi bật, nhưng khi được khuyến khích đặt câu hỏi, tự tìm cách giải quyết vấn đề, trình bày suy nghĩ và được ghi nhận thì khả năng có thể được phát huy rõ hơn.
Vì vậy, giáo dục không thể chỉ dừng ở việc truyền đạt kiến thức mà cần chú trọng hình thành cho người học khả năng tư duy độc lập, biết đặt vấn đề, tìm giải pháp và có trách nhiệm với lựa chọn của mình. Cách tiếp cận này cũng cần được mở rộng đối với nguồn nhân lực nói chung. Muốn phát huy trí tuệ của xã hội thì phải tạo được môi trường để mọi người có thể học tập, làm việc, đóng góp và được ghi nhận. Đồng thời, cần thay đổi cách nhìn về vai trò của người dân trong quá trình phát triển. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà cần được tạo điều kiện để tham gia, đóng góp sáng kiến và trực tiếp tạo ra những giá trị mới. Khi năng lực và ý kiến của người dân được tôn trọng, họ sẽ có thêm động lực để tham gia vào công việc chung.
Đối với yêu cầu đổi mới công tác cán bộ, trọng dụng nhân tài, Giáo sư Nguyễn Văn Phượng cho rằng trước hết cần nhận diện đúng người, sử dụng đúng người; trọng dụng nhân tài không chỉ là thu hút người có năng lực về một cơ quan, tổ chức mà quan trọng hơn là giao đúng công việc, đúng sở trường và tạo điều kiện để họ phát huy. Theo đó, việc đánh giá cán bộ, trí thức và người tài cần chú trọng hơn đến kết quả công việc và những đóng góp thực chất, không chỉ dựa vào bằng cấp, chức danh hay thâm niên; những người có khả năng giải quyết vấn đề mới, việc khó và tạo ra kết quả cụ thể cần được ghi nhận. Việc thu hút nhân tài mới chỉ là bước đầu. Quan trọng hơn là tạo được môi trường để họ muốn làm việc và tiếp tục cống hiến. Người làm khoa học cần môi trường tôn trọng tri thức, có điều kiện nghiên cứu, trao đổi học thuật và đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Người trẻ cần được giao việc, được thử sức và được thể hiện năng lực.
Nguồn lực trí tuệ cũng không chỉ nằm trong các cơ quan nhà nước mà còn ở các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp; cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia quốc tế. Nếu có cơ chế phù hợp để kết nối và sử dụng, đây là nguồn lực đáng kể cho phát triển. Đặc biệt, với đội ngũ trẻ, cần tránh tình trạng đào tạo nhiều nhưng cơ hội thực hành và cống hiến lại ít. Muốn có đội ngũ kế cận, cần giao cho người trẻ những công việc và trách nhiệm thực tế để họ trưởng thành qua công việc, đồng thời tạo cơ hội để họ thể hiện năng lực. Nếu chỉ yêu cầu người trẻ tích lũy kinh nghiệm nhưng không giao việc, không tạo điều kiện để họ thử sức thì rất khó hình thành năng lực thực tế.
Về vai trò của giáo dục, văn hóa và phát triển con người, Giáo sư Nguyễn Văn Phượng cho rằng đây là những yếu tố liên quan trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng phát triển. Giáo dục cung cấp tri thức, hình thành năng lực tư duy và khả năng thích ứng; văn hóa tạo nên hệ giá trị, cách ứng xử và ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng. Nếu giáo dục chỉ giúp người học có kiến thức để tìm một công việc thì chưa đủ. Điều quan trọng là giúp họ có khả năng tự học, tự giải quyết vấn đề, biết hợp tác và có trách nhiệm với công việc của mình. Trong điều kiện xã hội thay đổi nhanh, kiến thức có thể thay đổi, nhưng năng lực học tập và khả năng thích ứng sẽ giúp mỗi người tiếp tục phát triển. Với thế hệ trẻ, điều quan trọng là tạo được niềm tin và cơ hội để họ được tham gia vào những vấn đề thực tế, được đưa ra sáng kiến, được thử nghiệm những cách làm mới và được đánh giá bằng kết quả.
Khi có cơ hội tham gia, người trẻ không chỉ tiếp nhận những gì thế hệ trước để lại mà còn có thể tạo ra những giá trị mới. Đây cũng là cách chuyển từ quan niệm thế hệ trẻ là lực lượng kế cận sang nhìn nhận họ là lực lượng đang trực tiếp tham gia vào quá trình phát triển. Phát huy nguồn lực con người không nên chỉ được hiểu là đào tạo thêm nhiều người có trình độ cao. Quan trọng hơn là sau đào tạo, họ có môi trường để làm việc, có cơ hội sử dụng kiến thức và có động lực để cống hiến.