Tranh chấp tín dụng: Khi vài triệu đồng chậm trả có thể dẫn đến nguy cơ mất tài sản lớn
Một khoản chậm trả chỉ vài triệu đồng có thể kích hoạt điều khoản “vi phạm chéo”, kéo theo nguy cơ thu hồi trước hạn và xử lý tài sản bảo đảm giá trị lớn. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu nhìn nhận lại việc giải quyết tranh chấp tín dụng trên nền tảng thiện chí, công bằng và tính tương xứng.
Hoạt động tín dụng giữ vai trò then chốt trong nền kinh tế, vì vậy việc bảo vệ nguồn vốn hợp pháp và bảo đảm an toàn hệ thống cho các tổ chức tín dụng (TCTD) là yêu cầu hết sức cần thiết. Thế nhưng, ranh giới giữa quản trị rủi ro chính đáng với sự “lạnh lùng” của các điều khoản mẫu lại đang ở vào trạng thái rất mong manh.
Mới đây, một người thân gọi điện cho tôi phàn nàn, chỉ vì chậm ít ngày trả khoản vay mua trả góp một chiếc máy giặt có giá trị vài triệu đồng, lập tức bị một TCTD kích hoạt điều khoản “vi phạm chéo” để tuyên bố khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng và khởi kiện thu hồi nợ trước hạn, trong khi khách hàng vẫn đang thanh toán tiền gốc, lãi đầy đủ và đúng hạn. Ngoài ra, tài sản bảo đảm cho khoản vay là căn hộ chung cư có giá trị lớn gấp nhiều lần khoản vay.
Trên thực tế, đây không phải là trường hợp hiếm gặp và đang có xu hướng phổ rộng. Đã đến lúc chúng ta cần cùng nhìn nhận lại một thói quen tiếp cận hồ sơ lâu nay.
Đó là việc dễ dàng dành sự đồng thuận cho các hồ sơ khởi kiện từ phía TCTD do có tính chuẩn hóa cao về mặt chứng cứ và quy trình. Tuy nhiên, nếu quá chú trọng vào tính hình thức của những văn bản ấy, sự cẩn trọng về tính tương xứng, nguyên tắc thiện chí và sứ mệnh đồng hành cùng bên yếu thế sẽ vô tình đứng trước những thách thức lớn.

Thiết nghĩ, cơ quan tiến hành tố tụng giữ vai trò duy trì sự thăng bằng của cán cân công lý nhằm bảo đảm công bằng xã hội. Thì, một phán quyết nhân văn, đi sâu vào bản chất và bối cảnh vụ việc sẽ có ý nghĩa hơn việc đơn thuần chấp nhận một quy trình xử lý nợ mang tính kỹ thuật của bên mạnh thế.
Từ kỹ thuật “án ngữ” trong hợp đồng mẫu...
Trong kỷ nguyên số, quy trình quản trị rủi ro của các TCTD ngày càng được tự động hóa. Để tự bảo vệ trước nguy cơ nợ xấu, các TCTD thường cài đặt vào hợp đồng tín dụng mẫu điều khoản "vi phạm chéo". Theo đó, chỉ cần khách hàng phát sinh một khoản nợ quá hạn tại bất kỳ TCTD hoặc tổ chức tài chính nào khác trong hệ thống, TCTD đó có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, thu hồi toàn bộ khoản nợ trước hạn và yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm (TSBĐ).
Xét về mặt kỹ thuật, đây là biện pháp phòng ngừa rủi ro hợp pháp. Tuy nhiên, việc áp dụng máy móc điều khoản này trong thực tế đang tạo ra những hệ lụy đáng quan ngại.
Nhiều khách hàng chỉ chậm thanh toán vài triệu đồng tiền mua điện thoại, máy giặt trả góp do lỗi ứng dụng hoặc quên lịch, nhưng ngay lập tức hệ thống CIC (Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia) ghi nhận nợ xấu, dẫn đến hiệu ứng “nút bấm” khởi kiện tại một TCTD có thể được kích hoạt ngay lập tức.
Hậu quả là một ngôi nhà, một mảnh đất – vốn là tư liệu sản xuất hoặc tài sản sinh kế duy nhất của cá nhân, hộ gia đình – có giá trị lớn gấp nhiều lần khoản vay thực tế đứng trước nguy cơ bị phát mãi.
Dưới góc độ pháp lý, việc áp dụng các điều khoản mẫu mang tính "trừng phạt" bất cân xứng như trên chưa tiệm cận với tinh thần được Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 quy định tại Điều 3: Các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ một cách thiện chí, trung thực, không được lạm dụng quyền dân sự để xâm phạm lợi ích của người khác.
Hơn nữa, thông lệ về hợp đồng luôn đặt ra yêu cầu về "tính trọng yếu" của hành vi vi phạm để làm căn cứ đơn phương chấm dứt giao dịch. Một vi phạm chỉ được coi là trọng yếu khi nó làm cho bên kia không đạt được mục đích của hợp đồng.
Tuy nhiên, thực tế xét xử hiện nay lại ít khi xem xét một cách toàn diện bối cảnh này. Việc làm phá vỡ phương án kinh doanh hay thậm chí triệt tiêu một tài sản lớn của khách hàng chỉ vì một vi phạm thứ yếu ở nơi khác, vốn là khoản nợ nhỏ và hoàn toàn có khả năng khắc phục nhanh chóng, rõ ràng là sự thiếu cân nhắc về tính tương xứng.
Điều này vô tình biến một vi phạm mang tính kỹ thuật thứ yếu thành lỗi vi phạm hợp đồng trọng yếu để áp đặt chế tài nghiêm khắc lên bên yếu thế.
... đến thách thức trong đánh giá toàn diện bối cảnh vụ án
Khi các vụ tranh chấp này được đưa ra trước công lý, một thực trạng đáng suy ngẫm là tâm lý e ngại hoặc thiên vị vô hình của không ít người tiến hành tố tụng, bởi hồ sơ khởi kiện của các TCTD thường được chuẩn hóa tối đa bởi đội ngũ pháp chế và thu hồi công nợ.
Từ hợp đồng thế chấp, hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, thông báo đòi nợ, bảng tra cứu CIC đến văn bản thông báo chấm dứt hợp đồng đều “đẹp” về mặt hình thức và đúng về quy trình.
Sự chỉn chu này dễ tạo ra một “định kiến án xử” trong tâm lý người tiến hành tố tụng, mặc định rằng TCTD “luôn đúng” và việc tuyên bố phát mãi tài sản bảo đảm là điều hiển nhiên.
Do đó, nếu người tiến hành tố tụng chỉ tiếp cận vụ án theo tư duy “đọc chữ trên giấy”, xem xét máy móc rằng có vi phạm xảy ra hay không, hợp đồng có điều khoản đó hay không, thì vô tình có thể tự biến mình thành công cụ hợp thức hóa các yêu cầu cực đoan, bảo vệ bên mạnh thế mà quên đi vai trò cốt lõi là cân bằng cán cân công lý.
Chúng ta cần định hình lại rằng, bản chất của biện pháp thế chấp tài sản là để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, chứ không phải công cụ để TCTD “thâu tóm” hoặc đẩy khách hàng vào đường cùng khi họ hoàn toàn có nguyện vọng và năng lực khắc phục phần vi phạm nhỏ ngay từ giai đoạn tiền tố tụng hoặc trong quá trình tố tụng.
Cần giải pháp hài hòa để bảo vệ bên yếu thế
Để bảo đảm tính tôn nghiêm của pháp luật, vừa giữ vững an toàn hệ thống tín dụng nhưng không làm tổn thương quyền lợi chính đáng của người dân, thiết nghĩ cần có những thay đổi mang tính hệ thống.
Thứ nhất, đối với người tiến hành tố tụng: cần chuyển dịch tư duy từ việc đánh giá hình thức hồ sơ sang xem xét bản chất quan hệ tranh chấp. Người tiến hành tố tụng cần vận dụng mạnh mẽ cơ chế giải thích hợp đồng mẫu và rà soát tính hợp pháp của các điều khoản.
Nếu bên vay chứng minh được việc “vi phạm chéo” là nhỏ, khách quan và có thiện chí khắc phục ngay thì cần xem xét đầy đủ tính tương xứng trước khi áp dụng biện pháp xử lý tài sản bảo đảm.
Thứ hai, đối với TCTD: cần cá nhân hóa và nhân văn hóa quy trình xử lý nợ. TCTD nên thiết lập cơ chế cảnh báo, nhắc nhở và dành một khoảng thời gian ân hạn hợp lý đối với các lỗi vi phạm chéo phát sinh từ tiêu dùng nhỏ lẻ trước khi quyết định khởi kiện.
Việc tạo điều kiện để khách hàng tiếp tục thực hiện hợp đồng dài hạn không chỉ giúp giảm tải áp lực cho hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng mà còn mang lại dòng tiền ổn định, bền vững cho chính TCTD.
Thứ ba, về mặt hướng dẫn áp dụng pháp luật: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần sớm ban hành Nghị quyết hướng dẫn hoặc lựa chọn các phán quyết mẫu để phát triển thành Án lệ.
Trong đó, cần định hướng rõ về quyền tự chủ của Hội đồng xét xử trong việc đánh giá tính tương xứng giữa nghĩa vụ bị vi phạm và biện pháp xử lý tài sản bảo đảm.
Cụ thể, Tòa án có cơ sở để không chấp nhận yêu cầu phát mãi tài sản nếu giá trị tài sản bảo đảm vượt quá nhiều lần phần nghĩa vụ phát sinh từ một sự kiện vi phạm thứ yếu.
Thiết nghĩ, công lý không chỉ dừng lại ở việc công nhận sự chặt chẽ về mặt cơ học của các văn bản ký kết, mà bản chất nằm ở sự cân bằng và nhân văn khi áp dụng pháp luật vào đời sống.
Việc đặt nguyên tắc thiện chí và tính tương xứng làm nền tảng giải quyết tranh chấp sẽ mang lại giá trị cộng hưởng cho tất cả các bên tham gia.
Đối với các TCTD, điều này giúp chuyển dịch từ tư duy thu hồi nợ cứng nhắc sang quản trị rủi ro nhân văn, giữ chân khách hàng và xây dựng môi trường kinh doanh bền vững dựa trên mối quan hệ tương sinh.
Đối với cơ quan tiến hành tố tụng, một góc nhìn thấu đáo và khách quan sẽ giúp nâng cao chất lượng phán quyết, bảo đảm mỗi bản án đều thấu tình đạt lý.
Và trên hết, việc bảo vệ bên yếu thế, phần lớn là những người hạn chế về thông tin và năng lực đàm phán, không làm ảnh hưởng đến hệ thống tín dụng, mà ngược lại, đó chính là thước đo củng cố niềm tin xã hội vào sự nghiêm minh, công bằng và tính nhân văn của nền tư pháp nước nhà.